Thực trạng dân số Việt Nam và ý nghĩa giải quyết vấn đề dân số

10/04/2016 04:27 Số lượt xem: 335

Thực trạng dân số Việt Nam. Quy mô dân số: Theo Tổng cục thống kê, dân số Việt Nam đến 1/4/2013 ước tính là 89,5 triệu người (tăng 952.131 người so với 1/4/2012).

Vào tháng 11/2013 dân số Việt Nam đã đạt 90 triệu người, là nước đông dân thứ 3 ở ASEAN (sau Inđônêxia và Philippin) và thứ 8 trong khu vực châu Á và 13 trên thế giới.

Đây là tiềm năng to lớn về nguồn lực con người để phát triển kinh tế-xã hội đất nước. Dân số thành thị của Việt Nam là 28,9 triệu người, chiếm 32,3%; dân số nông thôn là 60,6 triệu người, chiếm 67,7%. Với 20,4 triệu người, Đồng bằng sông Hồng là vùng có quy mô dân số lớn nhất, chiếm 22,8%, tiếp đến là Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung (19,3 triệu người) chiếm 21,5%, Tây Nguyên là vùng có số dân ít nhất (5,5 triệu người) chỉ chiếm 6,1% dân số cả nước.

Bảng 1. Quy mô dân số chia theo giới tính, thành thị/nông thôn và vùng kinh tế – xã hội, 1/4/2013

                                                                                                                              Đơn vị tính: Người

Vùng kinh tế – xã hội

Tổng số

Nam

Nữ

Thành thị

Nông thôn

Toàn quốc

Trung du và miền núi phía Bắc

Đồng bằng sông Hồng

Bắc Trung Bộ và DH miền Trung

Tây Nguyên

Đông Nam Bộ

Đồng bằng sông Cửu Long

89479014

11483603

20399235

19265831

 

5455477

15433635

17441233

44263618

5723897

10098830

9539077

 

2792593

7446031

8663190

45215396

5759706

10300405

9726754

 

2662884

7987604

8778043

28859282

1958597

6336606

5101441

 

1569890

9455011

4437737

60619732

9525006

14062629

14164390

 

3885587

5978624

13003496

Nguồn: Tổng cục Thống kê. Điều tra biến động DS-KHHGĐ 2013.

Tỷ lệ tăng dân số. Thời kỳ 1999-2009, tỷ lệ tăng dân số bình quân năm là 1,2%/năm, giảm 0,5%/năm so với 10 năm trước và là tỷ lệ tăng thấp nhất trong 50 năm qua. Thời kỳ 2011-2013, tốc độ gia tăng dân số bình quân năm tuy đã giảm nhưng vẫn ở mức cao là 1,05%. Với quy mô dân số lớn, đà tăng dân số cao, dân số nước ta sẽ còn tiếp tục tăng đến giữa thế kỷ XXI với hơn 100 triệu người và sẽ vào nhóm 10 nước có dân số lớn thứ nhất thế giới. Sau 10 năm, tỷ suất sinh đã giảm mạnh từ 2,3 con xuống dưới mức sinh thay thế (2 con/phụ nữ).

Tỷ lệ tăng dân số ở Đông Nam Bộ là cao nhất với 3,2%/năm. Tây Nguyên là vùng có tỷ lệ nhập cư rất cao, dân số tăng nhanh với tỷ lệ bình quân 2,3%/năm. Dân số ở thành thị chiếm khoảng 32,3% tổng dân số cả nước, tăng bình quân 3,4%/năm.

Tỷ số giới tính khi sinh. Tỷ số giới tính khi sinh ở mức gần 114 bé trai/100 bé gái năm 2013 so với năm 1999 là 107 bé trai/100 bé gái. Điều này cho thấy một xu hướng gia tăng Tỷ số giới tính khi sinh ở nước ta. Sự gia tăng bất thường về tỷ số giới tính khi sinh của Việt Nam trong những năm gần đây đang là mối quan tâm hàng đầu của các nhà lập chính sách, các cơ quan truyền thông đại chúng, và các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Mất cân bằng giới tính khi sinh dẫn đến tình trạng thừa nam thiếu nữ trong tương lai, không chỉ ảnh hưởng đến cuộc sống của cá nhân, gia đình, dòng tộc mà còn ảnh hưởng tiêu cực đối với dân tộc và sự phát triển bền vững của đất nước. Việc lựa chọn giới tính trước sinh phản ánh tình trạng bất bình đẳng giới sâu sắc. Các nghiên cứu của quốc tế và Việt Nam cũng đã chỉ ra các hệ lụy trong tương lai của tình trạng mất cân bằng giới tính hiện nay. Trước thực trạng đáng quan ngại nêu trên, chính phủ Việt Nam rất quan tâm đến vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh. Lựa chọn giới tính trước sinh là nguyên nhân trực tiếp của hiện tượng mất cân bằng giới tính khi sinh. Đây là một hành vi phạm pháp theo quy định của Pháp lệnh Dân số. Vấn đề này đã được nhấn mạnh trong Chiến lược Quốc gia về Dân số và Sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011-2020, và các văn bản chính sách khác. Do đó, số liệu theo dõi các diễn biến của tỷ số giới tính khi sinh là cần thiết, nhằm đưa ra các can thiệp kịp thời về chính sách và chương trình.

Tuổi thọ bình quân chung. Theo kết quả điều tra năm 2013, tuổi thọ trung bình của nam giới là 70,5 tuổi, của nữ giới là 75,8 tuổi. Tuổi thọ trung bình chung của cả hai giới là 73,1 tuổi so với năm 2009 là 72,8 tuổi. Tuổi thọ cao và tăng thể hiện chất lượng cuộc sống của người dân đang được nâng cao. Cơ cấu dân số Việt Nam đang ở giai đoạn cơ cấu dân số vàng tức là có nhiều người trong tuổi lao động. Đó là tiềm năng to lớn về nguồn lực lao động để phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn hiện nay.

Phân bố dân số. Với mật độ dân số 270 người/km2 vào năm 2013, Việt Nam là một trong những nước có mật độ dân số cao trong khu vực cũng như trên thế giới. Mật độ dân số Việt Nam đứng thứ 40 trên thế giới, đứng thứ 16 ở Châu Á và đứng thứ ba ở khu vực Đông Nam Á, chỉ sau Singapore (7.971 người/km2) và Philippines (321 người/km2). Theo Liên Hợp Quốc, để cuộc sống thuận lợi, bình quân trên 1 km2 chỉ nên có từ 35-40 người. Như vậy, ở Việt Nam mật độ dân số gấp hơn 6 lần mức trên.

Mật độ dân số Việt Nam không đều ở các vùng: tập trung đông ở khu vực đồng bằng và thưa thớt hơn ở khu vực miền núi. Mật độ dân số của vùng Đồng bằng sông Hồng cao nhất nước, đạt 968 người/km2, tiếp theo là vùng Đông Nam Bộ, với mật độ 654 người/km2. Hai vùng này tập trung tới 40% dân số cả nước nhưng chỉ chiếm 13,5% diện tích lãnh thổ. Tây Nguyên là vùng có mật độ dân số thấp nhất cả nước (100 người/km2). Sự phân bố không đồng đều chủ yếu là do trình độ phát triển khác nhau giữa các vùng. Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ là hai vùng kinh tế phát triển nhất, tập trung nhiều khu công nghiệp lớn, và thu hút hàng nghìn lao động từ các vùng khác đến, dẫn đến mật độ dân số cao. Ngược lại, hai vùng Trung du và miền núi phía Bắc và Tây Nguyên là hai khu vực miền núi, kinh tế kém phát triển nên mật độ dân số thấp.

Tỷ trọng dân số thành thị, nông thôn. Tỷ trọng dân số thành thị, nông thôn là một trong những chỉ tiêu quan trọng trong sự phát triển của đất nước. Năm 2013, dân số thành thị là 28,9 triệu người, chiếm 32,3%; dân số nông thôn là 60,6 triệu người, chiếm 67,7%. Dân số thành thị có xu hướng tăng nhanh và tập trung nhiều nhất ở Thủ đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, các thành phố trực thuộc trung ương... Việc phát triển đô thị ngoài việc xây dựng hạ tầng cơ sở, phải kèm theo việc xây dựng mạng lưới an sinh xã hội, lối sống văn hóa đô thị, chăm sóc đến con người…

Chất lượng dân số Việt Nam: Chỉ số phát triển con người (HDI) là một chỉ tiêu tổng thông qua các tiêu chí thu thập bình quân đầu người, trình độ văn hóa, tuổi thọ bình quân của người dân. Việt Nam xếp hạng thứ 121 trong 187 quốc gia và lãnh thổ về sự phát triển con người - thứ hạng này được đánh giá ở mức trung bình trên thế giới. Chỉ số HDI của Việt Nam đang giảm chậm từ khoảng 1,7% trước năm 2000 xuống còn khoảng 0,96% trong những năm gần đây (UNDP, 2013). Tỷ lệ này thấp so với nhiều nước khu vực và thế giới. Đây là một thách thức to lớn đối với sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta.

Chất lượng dân số về thể chất của người Việt Nam còn thấp. Hiện nay, có 1,5% dân số Việt Nam bị thiểu năng về thể lực và trí tuệ. Trong đó, số trẻ mới sinh bị dị tật bẩm sinh do di truyền khoảng 1,5-3%. Số lượng người bị tàn tật, khuyết tật trong cả nước khoảng 5,3 triệu người (chiếm 6,3% dân số)[1]. Trong khi đó, hàng năm vẫn chưa ngăn chặn được tình trạng gia tăng số người mới bị tàn tật, khuyết tật do tai nạn giao thông, tai nạn lao động…Vấn đề này ảnh hưởng không nhỏ đến an ninh xã hội, y tế. Tầm vóc, thể lực cân nặng, sức bền của người Việt Nam đã có nhiều bước tiến lớn tuy nhiên so với nhiều nước trong khu vực còn hạn chế. Thanh niên Việt Nam đa số thấp, nhẹ cân và yếu về thể lực.

Ý nghĩa giải quyết vấn đề dân số

Thứ nhất, dân số và tăng trưởng kinh tế. Trong các nhóm giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế-xã hội hiện nay, nhóm giải pháp về dân số và nguồn nhân lực được đưa lên hàng đầu. Bởi giữa dân số và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau theo tỷ lệ nghịch. Thông thường, tỷ lệ gia tăng tổng sản phẩm quốc dân (GNP) bình quân đầu người hàng năm được coi là chỉ tiêu để đánh giá tăng trưởng kinh tế. Để tăng được chỉ tiêu này, GNP phải tăng nhanh hơn tỷ lệ gia tăng dân số. Việc hạ thấp tỷ lệ gia tăng dân số (nếu GNP không thay đổi) cũng sẽ làm tăng GNP tính trên đầu người. Theo tính toán để ổn định kinh tế xã hội, nếu tốc độ phát triển dân số là 1% thì tốc độ tăng trưởng kinh tế phải là 4%[2]. Tăng trưởng kinh tế phải đồng thời với giảm phát triển dân số thì đời sống nhân dân mới được cải thiệ. Ở nước ta hiện nay, trong khi mức bình quân GNP đầu người rất thấp trong khi tỷ lệ gia tăng dân số mặc dù đã chậm lại, nhưng mỗi năm dân số tăng thêm 1 triệu người. Đây luôn là một bài toán lớn, khó khăn đối của tất cả các quốc gia hiện trong đó có Việt Nam.

Mọi biến động dân số tác động đến tăng trưởng kinh tế, ví dụ, cơ cấu tuổi của dân số là một yếu tố quan trọng hàng đầu vì nó xác định lượng cung lao động trong nền kinh tế đáp ứng được nhu cầu tăng trưởng kinh tế hay không. Nếu cơ cấu dân số trẻ sẽ tạo ra nguồn lao động dồi dào để tăng trưởng kinh tế, ngược lại dân số già sẽ làm cho lượng dân trong độ tuổi lao động giảm không đáp ứng được nguồn nhân lực bên cạnh đó phải tăng an sinh xã hội, điều này sẽ làm chậm tăng trưởng kinh tế. Cơ cấu “dân số vàng” hiện nay sẽ đem đến một cơ hội duy nhất trong lịch sử nhân khẩu học của Việt Nam trong việc đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế với điều kiện lực lượng lao động dồi dào này được đào tạo và sử dụng có hiệu quả.

Thứ hai, dân số và giáo dục. Dân số và giáo dục tác động lẫn nhau trong mối tương quan của nhiều yếu tố khác như kinh tế, chính trị, truyền thống văn hoá, tôn giáo…Trong các yếu tố dân số ảnh hưởng đến quy mô và cơ cấu của hệ thống giáo dục, quy mô cơ cấu dân số có tác động mạnh nhất. Quy mô dân số lớn, tỷ lệ phát triển dân số cao, cơ cấu dân số trẻ, dẫn tới quy mô dân số trong độ tuổi đi học lớn và phát triển nhanh, sẽ tăng nhu cầu đầu tư, cung cấp ngân sách cho giáo dục. Cơ cấu dân số theo độ tuổi và giới tính cho biết quy mô, cơ cấu của dân số trong độ tuổi đi học. Dân số Việt Nam tăng thêm khoảng 1,1 triệu người/năm, tức là mỗi năm phải mở khoảng 22 ngàn lớp học, tương đương tối thiểu phải có thêm khoảng 50 ngàn giáo viên mới[3], chưa xét đến những hệ quả kéo theo như tỷ lệ trẻ em thất học, bỏ học, chất lượng giáo dục suy giảm, trường lớp quá tải…

Thứ ba, dân số và bảo vệ môi trường. Hiện nay, tác động của gia tăng dân số và quy mô dân số đông với môi trường và ảnh hưởng của môi trường bị ô nhiễm đối với con người là một trong những vấn đề được quan tâm và thảo luận rộng rãi trên toàn thế giới. Gia tăng dân số và quy mô dân số đông trước hết tác động đến nguồn tài nguyên. Dân số tăng nhanh sẽ gia tăng mức độ “bóc lột” đất đai và làm kiệt quệ độ màu mỡ của đất. Diện tích đất canh tác giảm do nhu cầu diện tích đất để xây dựng nhà ở, trường học, bệnh viện và các công trình công cộng khác tăng lên. Diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp do con người đốt rừng để lấy đất trồng trọt, khai thác rừng, chặt phá rừng bừa bãi, không thể kiểm soát được. Điều này tiềm ẩn những nguy cơ: đất bị bào mòn ở miền núi, bị nhiễm mặn, bị lấp cát ở vùng đồng bằng ven biển. Việc mất rừng nhiệt đới, khí hậu bị thay đổi, tài nguyên sinh vật bị thu hẹp, đe dọa sự phát triển bền vững. Ô nhiễm môi trường không khí, môi trường đất, môi trường nước, là những nguyên nhân chính tạo điều kiện cho bệnh tật phát triển.

Thứ tư, dân số và nghèo đói. Sự gia tăng dân số dẫn tới suy thoái môi trường, không có nước sạch, không khí trong lành và phương tiện vệ sinh, dẫn đến bệnh tật và giảm tuổi thọ, trẻ em bị suy dinh dưỡng, không được đi học. Nghèo đói dẫn đến bệnh tật, chết vì HIV/AIDS. Sự gia tăng dân số dẫn đến tăng số người không có việc làm, gây nhiều sức ép về kinh tế, xã hội, môi trường. Dân số tăng, song quy hoạch và đầu tư xây dựng đô thị lại chưa đáp ứng kịp. Di dân càng nhiều, tuy có giúp tăng trưởng kinh tế nhưng gây nhiều tiêu cực về xã hôi và môi trường.

Năm 2010, nước ta có khoảng 37% người nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số trong tổng số 13% dân tộc thiểu số trên dân số toàn quốc[4]. Hiện nay ở Việt Nam khoảng 20% dân số sống ở thành thị, 80% dân số sống ở nông thôn. Đời sống, mức thu nhập và cơ hội có việc làm khác nhau, dẫn tới sự phân hóa giàu nghèo càng rõ hơn. Sự phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu sắc có thể trở thành một nguy cơ gây bất ổn định kinh tế, xã hội, chính trị.

Thứ năm, dân số và y tế. Sự phát triển của hệ thống y tế của mỗi quốc gia phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố: trình độ phát triển kinh tế-xã hội; điều kiện vệ sinh môi trường; tình hình phát triển dân số; chính sách của nhà nước đối với y tế và các điều kiện chăm sóc sức khỏe nhân dân. Như vậy, dân số là một yếu tố mang tính khách quan và cùng với các yếu tố khác, tác động tới phát triển hệ thống y tế về số lượng và chất lượng. Để ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe, hệ thống y tế cần phát triển các loại hình dịch vụ y tế phù hợp ứng.

Quy mô dân số và tỷ lệ gia tăng dân số tác động trực tiếp làm tăng nhu cầu đối với hệ thống y tế. Đó là một động lực thúc đẩy hệ thống này phát triến. Song, ở nước ta, mức đầu tư cho y tế rất thấp so với nhu cầu. Bên cạnh đó, sự phân phối không đồng đều dịch vụ y tế trong các bộ phận dân cư, đặc biệt là giữa thành thị và nông thôn; sự mất cân đối giữa y tế dự phòng và y tế điều trị đã làm giảm hiệu quả hoạt động y tế. Công tác chăm sóc sức khỏe và bảo vệ bà mẹ trẻ em được tăng cường làm giảm mức chết ở trẻ em sơ sinh. Tăng cường các điều kiện xã hội, y tế trong việc chăm sóc tuổi già góp phần giảm phụ thuộc vào con cái, cũng dẫn đến giảm sinh. Rõ ràng y tế là ngành bảo đảm mặt kỹ thuật cho quá trình tái sản xuất dân số diễn ra hợp lý và hiệu quả.

Trên cơ sở thực trạng dân số Việt Nam và ý nghĩa giải quyết vấn đề dân số, Đảng và Nhà nước đã đề ra những chính sách dân số phù hợp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống mỗi người, mỗi gia đình và toàn thể xã hội, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế–xã hội của đất nước, nâng cao chất lượng giống nòi.

Trần Văn Hoan và Nguyễn Thị Quỳnh[5]



[1] http://www.dangcongsan.vn/cpv/Modules/Preview/PrintPreview.aspx?co_id=30087&cn_id=356860

[2] http://www.hids.hochiminhcity.gov.vn/c/document_library/get_file?uuid=b276f8e3-b498-4ff2-bb8e-2488615b0ba2&groupId=13025

[3] http://www.gopfp.gov.vn

[4] http://www.gopfp.gov.vn

[5] Trường Cao đẳng ANNDI, Bộ Công an.