BÀI PHÁT BIỂU CỦA GIÁM ĐỐC DỰ ÁN VIỆT NAM-ĐAN MẠCH

TRONG HỘI THẢO GIỚI THIỆU KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU DS-SKSS

                                                                        TS. Nguyễn Quốc Anh, Giám đốc Trung tâm Thông tin

                                                                        Kiêm giám đốc dự án Đan Mạch

            Kính thưa Quý vị đại biểu

            Trước hết xin thay mặt Trung tâm Thông tin, BQLDA xin trân trọng cảm ơn UBDSGĐ&TE, BQLDA tỉnh Nghệ An, UBDSGĐ&TE, BQLDA huyện Quỳnh Lưu, UBDSGĐ&TE và các cán bộ, nhân dân hai xã  Quỳnh Bảng và  Quỳnh Xuân đã  nhiệt tình cộng tác giúp đỡ chúng tôi thực hiện tốt các hoạt động của dự  án trong thời gian qua.           

           Kết quả dự án giới thiệu trong hội thảo này, ngoài các báo cáo tham luận của các nghiên cứu viên thì nội dung chính là giới thiệu cuốn sách về "Nhập đề về nhân học xã hội trong bối cảnh Việt Nam ". Cuốn sách đã được in và phát hành chính thức bằng hai thứ tiếng Anh và Việt. Đây là một phương pháp nghiên cứu mới được giới thiệu trong nghiên cứu về DS-SKSS ở Việt Nam. Với sự giúp đỡ của các GS. TS của Trường đại học tổng hợp Copenhagen Đan Mạch đã lựa chọn phương pháp giới thiệu một bộ môn nghiên cứu mới thông qua những ví dụ cụ thể về những con người, những cuộc sống và nhu cầu SKSS của những người dân thuộc địa bàn nghiên cứu. Cách tiếp cận dễ hiểu, dễ tiếp thu như đang đọc cuốn truyện về số phận của những con người tại địa bàn nghiên cứu giúp cho người đọc dễ nhớ và dễ tiếp cận với một bộ môn nghiên cứu mới được đưa vào Việt Nam. Phương pháp nghiên cúu nhân học xã hội với cách tiếp cận những cá nhân trong chủ thể nghiên cứu, xem xét cụ thể hoàn cảnh của từng cá nhân, quan tâm đến tâm tư nguyện vọng, nhu cầu của từng cá nhân để có thể rút ra những khuyến nghị bổ ích cho các nhà hoach định chính sách, thiết lập kế hoạch la hoàn toàn cần thiết cho thời gian tới khi công tác DS,GĐ&TE ở Việt Nam dần đi vào chất lượng.

           Phương pháp tiếp cận này đã gợi cho tôi nhớ lại bài viết của GS. Mai Kỷ nguyên Bộ trưởng, Chủ nhiệm UBQGDS-KHHGĐ về tính nhân văn và văn hoá trong công tác DS-KHHGĐ vào ngay đầu những năm 1993 khi vừa hoàn thành việc xây dựng Nghị quyết TW 4 về Chính sách DS-KHHGĐ.

 Gia đình là tế bào của xã hội, một cách khác mỗi gia đình như một xã hội thu nhỏ với đầy đủ các mối quan hệ đan xem. Dân số vừa là chủ thể quản lý

xã hội nhưng đồng thời cũng là đối tượng quản lý của xã hội, giải quyết vấn đề dân số tức là phải xem xét giải quyết đầy đủ các quan hệ xã hội của trẻ em, người lao động và người cao tuổi. Tính nhân văn tính văn hoá được thể hiện rất cao trong công tác DS-KHHGĐ và BVCSTE trước đây và nay là công tác DSGĐ&TE. Ở từng quốc gia, đặc biệt là những nước đang phát triển, người ta phải xem xét lựa chọn những vấn đề trọng tâm để tập trung giải quyết dứt điểm trong từng thời kỳ cụ thể. Như ở Việt Nam trong thời gian vừa qua là tập trung giải quyết giảm tỷ lệ sinh. Để giải quyết căn bản vấn đề gia tăng dân số ở nước ta, với nhận định "Sự gia tăng dân số quá nhanh là một trong những nguyên nhân quan trọng cản trở tốc độ phát triển kinh tế-xã hội, gây khó khăn lớn cho việc cải thiện đời sống, hạn chế điều kiện phát triển về mặt trí tuệ, văn hóa và thể lực của giống nòi" và "nếu xu hướng này cứ tiếp tục diễn ra thì trong tương lai không xa đất nước ta sẽ đứng trước những khó khăn rất lớn, thậm chí những nguy cơ về nhiều mặt", Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 4 (khóa VII) đã có Nghị quyết về chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình. Nội dung của Nghị quyết đã đề ra các quan điểm cơ bản, mục tiêu và hệ thống các giải pháp của công tác DS-KHHGĐ, đánh dấu một bước phát triển cao hơn, hệ thống hơn và sâu sắc hơn về tư duy của Đảng đối với vấn đề dân số, tạo ra một khung cảnh mới thuận lợi cho chương trình Dân số, Gia đình và trẻ em ở Việt Nam.

Nếu chúng ta không có những nỗ lực vượt bậc để giảm nhanh tốc độ gia tăng khủng khiếp này. So sánh với các nước Châu Á như Hàn Quốc, Thái Lan, Trung Quốc... chúng ta lại càng thấy tiếc cho thời gian đã bỏ lỡ. Chẳng hạn, Hàn Quốc bắt đầu công tác DS-KHHGĐ vào năm 1962, sau ta một năm, dân số của họ lúc bấy giờ là 25 triệu người (ít hơn ta 5 triệu người) nhưng đến nay họ chỉ có 45 triệu người còn ta đã là 75 triệu. Dự báo khoảng cách dân số giữa ta và Hàn Quốc sẽ tiếp tục tăng lên đến gần 100 triệu người vào giữa thế kỷ 21!

          Cho đến tận những năm gần đây, nhiều người vẫn nghĩ rằng công tác dân số chỉ đơn thuần là các nghiệp vụ kỹ thuật và thường gọi ngắn gọn đó là công tác đặt vòng. Trên thực tế, công tác DS-KHHGĐ nói riêng và nay là công tác DSGĐ&TE, trước hết là công tác tư tưởng-văn hóa và thực hiện công tác DSGĐ&TE là một cuộc cách mạng về nhận thức, sau đó mới là cuộc cách mạng về hành vi. Để chuyển từ những quan niệm, tập quán suy nghĩ vốn tồn tại hàng nghìn đời nay trong đời sống xã hội và cá nhân của chúng ta như "trời sinh voi, trời sinh cỏ", "một con, một của", “ gia đình tứ đại đồng đường”, "đông con nhiều phúc", "mười con gái coi là không, một con trai mới là có" v.v... sang chấp nhận một giá trị mới, một chuẩn mực mới của đời sống gia đình là sinh đẻ ít con; từ chỗ coi cơ chế sinh đẻ là chuyện cấm kị trong những vấn đề về đạo đức xã hội sang việc chấp nhận sử dụng những biện pháp tránh thai một cách tự do và tự nguyện; từ chỗ coi đình sản là cái gì đó, làm cho người ta liên tưởng đến những hoạn quan thời xưa phát triển không bình thường về thể lực và trí lực, đến việc thừa nhận nó là một biện pháp tránh thai tốt khi đã có đủ số con mong muốn, từ chỗ coi hiểu biết về sức khoẻ tình dục là điều cấm kị cho đến đây là kiến thức cần thiết cho cuộc sống gia đình, ... là một cuộc vật lộn đổi thay trong mỗi cá nhân, trong mỗi cộng đồng. Chính vì vậy, điều cốt lõi nhất của công tác DSGĐ&TE là phải làm chuyển biến cho được nhận thức của người dân, làm cho quy mô gia đình ít con để nuôi dạy cho tốt, gia đình ấm no hạnh phúc trở thành chuẩn mực xã hội. Chỉ khi nào chúng ta làm được điều đó, chỉ khi nào đa số người dân nhận thấy rằng thực hiện các chính sách về DSGĐ&TE là chính vì lợi ích của bản thân họ, gia đình họ, rằng điều quan trọng không phải là có nhiều con hoặc phải có con trai mà là ở giá trị cao về học vấn, văn hóa, đạo đức, sức khỏe của mỗi đứa con và việc thực hiện các chính sách DSGĐ&TE là một hành vi văn minh thì công tác DSGĐ&TE mới thành công vững chắc, xã hội mới ổn định và phát triển bền vững.

          Những điều nói trên đã được nêu trong các báo cáo và đã được đăng tải nhiều lần trên các phương tiện thông tin đại chúng. Tất cả những nhận định, những con số thống kê tạo cho người ta cảm giác khô khan và nhiều khi khiến người ta chỉ nghĩ đến ý nghĩa của công tác DSGĐ&TE đối với sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Điều đó hoàn toàn đúng, chẳng có gì sai, Vì chúng ta thật dễ hình dung những gì sẽ xảy ra đối với đất nước chúng ta, một đất nước vẻn vẹn chỉ có diện tích hơn 330 nghìn cây số vuông trong đó, trải dài với đường giao thông đi lại khó khăn và 3/4 là núi non đã gần như trơ trụi vì cây cối đã bị chặt hạ gần hết cho mục đích mưu sinh, một đất nước bị tàn phá và nghèo kiệt do những cuộc chiến tranh khốc liệt và kéo dài, một đất nước tụt hậu so với các nước phát triển hàng thế kỷ phải nuôi không chỉ trên 80 triệu người dân như hiện nay mà là 140 triệu, 280 triệu... trong một tương lai không xa. Cũng thật dễ hình dung việc tránh sinh ra thêm 20-25 triệu người trong vòng vài chục năm, tránh đi chừng ấy miệng ăn, chừng ấy chỗ ngồi trong các học đường, chừng ấy chỗ làm việc phải được tạo ra, chừng ấy con người phải được chăm sóc y tế ... sẽ tạo biết bao thuận lợi cho đất nước chúng ta, một đất nước đã rạng danh bởi những chiến công kỳ lạ, vượt lên, thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu. Nhưng tất cả những điều đó không phải là điều chủ yếu muốn đề cập đến trong bài viết này. Điều muốn nói là công tác DSGĐ&TE không phải chỉ có vậy. Công tác DSGĐ&TE hàm chứa trong nó những nội dung phong phú đầy tính nhân văn, ẩn chứa trong nó những gia đình nho nhỏ, những cuộc đời và thân phận từng con người, bởi vì mục đích trước hết của công tác này là vì từng con người, những con người cụ thể với tất cả vui buồn, sướng khổ đang sống cũng như sẽ sống ở những làng quê, ngõ phố trên đất nước Việt Nam. Mục đích đó được nêu rõ trong các văn bản của Đảng và Nhà nước ta về công tác DSGĐ&TE, từ những văn bản đầu tiên cho đến những văn bản gần đây nhất. Ngay tại quyết định của Hội đồng Chính phủ năm 1961 về việc sinh đẻ có hướng dẫn, văn bản đánh dấu bước khởi đầu trong công tác này đã nêu "vì sức khỏe của người mẹ, vì hạnh phúc và hoà thuận của gia đình, vì để cho việc nuôi dạy con cái được chu đáo, việc sinh đẻ của nhân dân ta cần được hướng dẫn một cách thích hợp". Nghị quyết Trung ương 4 về chính sách DS-KHHGĐ cũng nêu rõ mục tiêu tổng quát của công tác DS-KHHGĐ là "Thực hiện gia đình ít con, khỏe mạnh, tạo điều kiện để có cuộc sống ấm no, hạnh phúc". Mục tiêu đó đang đi vào cuộc sống trở thành thực tiễn ngày càng mở rộng và tạo ra khát vọng thực hiện để có cuộc sống tốt đẹp hơn ở nhiều người dân. Từ những năm đầu thực hiện công tác KHHGĐ có bà cụ ở huyện Trà Cú thuộc tỉnh Trà Vinh, có 8 con thân chinh đưa cô con gái của mình đã lập gia đình và đã có 3 con đến bệnh viện để đình sản. Trả lời câu hỏi về lý do đưa con gái đi đình sản, bà cụ đã nói rất cảm động: "Đời tôi vì không biết nên khổ, nay phải làm cho đời con tôi sướng hơn". Câu trả lời mộc mạc ấy nói lên biết bao điều với những người làm công tác DSGĐ&TE.

         Chỉ riêng một khía cạnh là hành vi sinh sản, một hành vi không chỉ liên quan đến việc duy trì nòi giống mà còn có liên quan trực tiếp đến một trong những niềm hạnh phúc của đời sống cá nhân và gia đình, diễn ra không phải ở nơi công cộng mà ở trong từng gia đình, nơi riêng tư của những cặp vợ chồng trong đời sống cá nhân.  Do đó công tác DSGĐ&TE không thể chỉ thực hiện trong các cuộc họp, hội nghị, hội thảo mà còn phải tác động cả trực tiếp lẫn gián tiếp, cả nhận thức lẫn tình cảm đến những đối tượng trong độ tuổi sinh đẻ, và không chỉ riêng họ, ở mọi nơi, mọi lúc và trong mọi mối quan hệ của họ. Chính vì vậy, trong công tác DSGĐ&TE, đang có một đội ngũ đông đảo hàng trăm ngàn cộng tác viên tình nguyện, ngày đêm mang đến cho những cặp vợ chồng những thông tin, những hiểu biết về phòng tránh thai, chăm sóc con cái, làm kinh tế gia đình, rỉ rả với họ những điều thiệt hơn, chia xẻ với họ những điều thầm kín, giải toả cho họ những điều băn khoăn và mang đến cho họ những phương tiện tránh thai thích hợp mà vì lý do thời gian hoặc vì những lý do tế nhị khác họ chưa thể tự đến nơi công cộng để nhận. Những cộng tác viên tình nguyện này làm việc đó không phải vì tiền, cũng chẳng phải để được ghi nhận công lao mà chính vì một mong muốn giản dị là được đem lại hạnh phúc cho những người khác trong cộng đồng, làng xóm "tắt lửa tối đèn có nhau". Chính đội ngũ những cộng tác viên tình nguyện đông đảo này đã, đang và sẽ quyết định sự thành công của công tác DSGĐ&TE, một công tác quan trọng của đát nước chúng ta hiện nay. Trong số họ có biết bao người xuất sắc, nhiều tấm gương đáng được ngợi khen.

          Phương pháp nghiên cứu nhân học xã hội thể hiện rất rõ điều này, những nghiên cứu phản ánh thực tế cuộc sống, những người nghiên cứu thông qua kết quả nghiên cứu, tác phẩm của mình có thể góp phần làm cho mọi nguời nâng niu chăm chút những mầm mống của cái mới, cái đẹp và hướng cuộc sống đến cái mới, cái đẹp góp phần xây dựng xã hộI phát triển vì mục đích ấm no, hạnh phúc cho mọi người dân. Là những người làm công tác nghiên cứu DSGĐ&TE, chúng tôi nghĩ rằng công cuộc vận động đầy cam go, phức tạp này cần được nghiên cứu sâu, phản ánh một phần của cuộc sống hiện thực có thể cung cấp những chất liệu không kém phần phong phú để những người nghiên cứu bằng tài năng và ý thức đạo đức của người nghiên cứu tạo ra những sản phẩm đích thực có tác dụng mạnh mẽ làm chuyển biến nhận thức và tình cảm của người dân đối với công tác DSGĐ&TE mà mục tiêu là làm cho mọi người tự nguyện chấp nhận "dù gái hay trai, dừng lại ở hai con để nuôi và dạy cho tốt, xây dựng gia đình ấm no hạnh phúc" sớm thành công và thành công vững chắc.