|
Nét đặc thù của nhóm theo đạo trong việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản (Tham luận của Thạc sỹ Bùi Kim Chi, Viện khoa học dân số, gia đình và trẻ em) Sức khoẻ bà mẹ và trẻ em là một trong những nội dung chính của chương trình SKSS. Vấn đề này chỉ được thực sự quan tâm đúng mức từ khi xuất hiện chương trình hành động của Hội nghị Cairo.Theo Tổ chức Y tế thế giới, hàng năm có khoảng nửa triệu phụ nữ mắc các tai biến sản khoa trầm trọng trên toàn cầu. Trong đó, khoảng 90% số các trường hợp rơi vào các nước đang phát triển. Những tai biến sản khoa này là một trong những nguyên nhân chính gây tử vong ở bà mẹ và trẻ em. So với các nước đang phát triển trong khu vực, tỉ lệ chết mẹ ở Việt nam nói chung là thấp ( 1,1/ 1000 trẻ sinh ra sống), (MOH,1977), nhưng trái lại tỉ lệ tai biến sản khoa như băng huyết, nhiễm trùng sản khoa, vỡ tử cung... lại cao nhất, đặc biệt ở những vùng nông thôn, miền núi , ven biển. Điều đó phụ thuộc rất nhiều vào năng lực tiếp cận các dịch vụ chăm sóc SKSS của người phụ nữ và khả năng cung ứng các dịch vụ đó của cộng đồng xã hội. Năng lực tiếp cận các dịch vụ đó của người phụ nữ lại phụ thuộc nhiều yếu tố như kinh tế, trình độ học vấn, tôn giáo, dân tộc... Trong báo cáo này, chúng tôi đưa ra một số phát hiện mới về những nét đặc thù của nhóm đồng bào theo đạo trong việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản từ kết quả nghiên cứu định tính đã được tiến hành tại xã Quỳnh Bảng vào tháng 4 và tháng 5/2004. Theo kết quả điều tra cơ bản về nghiên cứu định lượng của Dự án “Nâng cao năng lực nghiên cứu về Dân số và SKSS” tại hai xã Quỳnh Bảng và Quỳnh Xuân cho thấy: - Về nơi sinh: phụ nữ theo đạo có xu hướng sinh con tại nhà nhiều hơn gấp trên 4 lần so với nhóm phụ nữ không theo đạo. Nếu phụ nữ không theo đạo sinh con tại nhà chiếm 15,6% thì phụ nữ theo đạo chiếm 65,2%. - Về việc đỡ đẻ: chỉ có 50% phụ nữ theo đạo được nữ hộ sinh đỡ đẻ, 12% được bà mụ đỡ và 32% được đỡ bởi các thành viên trong gia đình, họ hàng, trong khi đó tỷ lệ tương ứng ở nhóm không theo đạo là 91%, 4% và 2%. Điều đó chứng tỏ việc tiếp cận các dịch vụ y tế của nhóm theo đạo là thấp so với nhóm không theo đạo. Sự khác biệt đó được tác động bởi yếu tố kinh tế hay là yếu tố văn hoá ảnh hưởng đến năng lực tiếp cận các dịch vụ chăm sóc SKSS của người phụ nữ? Nó phụ thuộc vào năng lực tiếp cận các dịch vụ chăm sóc trong khi sinh của hộ gia đình hay khả năng cung ứng các dịch vụ đó của cộng đồng xã hội? Kết quả nghiên cứu định tính của chúng tôi đã được tiến hành tại xã Quỳnh Bảng vào tháng 4 và tháng 5/2004, ở một mức độ nhất định đã góp phần lý giải những nguyên nhân của hiện tượng này. Các kết quả phỏng vấn sâu cho thấy ngoài lý do kinh tế như thu nhập thấp, nguyên nhân chủ yếu khiến phụ nữ theo đạo thường ít sử dụng các dịch vụ y tế là do họ ngại. Ngại ở đây được hiểu theo một số nghĩa: - Thứ nhất, đó là cảm giác không thoải mái khi tiếp xúc với hệ thống chăm sóc sức khoẻ. Chính yếu tố này gây trở ngại đến việc sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ của người dân nhiều hơn so với các kiến thức của bản thân người sử dụng dịch vụ hay tính sẵn có của dịch vụ y tế. Do ảnh hưởng bởi phong tục tập quán cũng như các điều cấm kỵ, phụ nữ theo đạo rất xấu hổ khi bị người khác nhìn thấy thân thể của mình. Họ cho đó là một việc làm rất khó coi (khó coi ở đây hiểu là cảm giác xấu hổ, ngượng ngùng) mặc dù đều biết rằng sinh tại trạm có lợi hơn rất nhiều so với sinh con tại nhà như có cảm giác yên tâm hơn, trang thiết bị dù sao cũng tốt hơn ở nhà, ít xảy ra rủi ro. Mặc dù đã bắt đầu có những thay đổi theo hướng tập trung nhiều hơn vào khách hàng, các dịch vụ KHHGĐ và chăm sóc SKSS nhìn chung vẫn phụ thuộc nhiều vào người cung cấp dịch vụ. Chất lượng dịch vụ thường không cao. Hệ thống trang thiết bị y tế ở cấp cơ sở còn nghèo nàn. Trong một phòng đẻ thường không chỉ có bác sĩ với sản phụ, mà còn có vài người khác nữa. Mặt khác, khi đỡ đẻ, các bác sĩ thường mở cửa phòng để có thêm ánh sáng, mọi người có thể tự do vào xem, sự kín đáo bị vi phạm. Điều đó dẫn đến sự ngại ngùng của những người phụ nữ công giáo, một nhóm xã hội có đặc thù riêng. - Thứ hai, do quy định của giáo lý như các cặp vợ chồng chỉ được áp dụng các biện pháp tránh thai truyền thống, đặc biệt vấn đề nạo phá thai bị cấm kỵ nên phụ nữ theo đạo thường có nhiều con. Trong khi đó, do kết quả của một quá trình tuyên truyền trong suốt một thời gian dài, chính sách DS-KHHGĐ của nhà nước đã thấm sâu vào từng người dân. Bản thân người dân hầu hết đều nhận thức được ích lợi của việc sinh ít con. Vì vậy, dù ít hay nhiều, phụ nữ theo đạo thiên chúa đều nhận thức được tầm quan trọng của việc sinh ít con. Mỗi khi lên trạm để khám thai hoặc sinh đẻ, họ thường bị cán bộ y tế nhìn với một “ánh mắt khác” (ánh mắt khác ở đây được hiểu là các cán bộ y tế coi những người phụ nữ sinh nhiều con là những người lệch chuẩn). Nhóm phụ nữ theo đạo thường cảm thấy mình thấp kém hơn những người bên lương trong con mắt của các cán bộ y tế. Các cán bộ y tế luôn luôn nói tại sao lại đẻ nhiều thế. Do đó, tâm lý e ngại càng nảy sinh trong các phụ nữ theo đạo. Tâm lý này ngày càng lớn khi một thực tế là hầu hết các cán bộ y tế xã hoặc cán bộ uỷ ban đều là những người bên lương nên họ khó có thể chia sẻ một cách thấu đáo với sự e ngại của nhóm phụ nữ bên giáo. Các cán bộ chính quyền xã, một điều dễ nhận thấy là tất cả đều cho nguyên nhân của việc ít sử dụng các dịch vụ y tế của nhóm không theo đạo là do trình độ nhận thức của họ còn thấp. Mặc dù vậy, không thể phủ nhận một thực tế là ngày nay nhóm theo đạo có xu hướng sử dụng các dịch vụ y tế ngày càng nhiều, đặc biệt đối với nhóm đối tượng là phụ nữ trẻ trong độ tuổi sinh sản do kết quả của quá trình tuyên truyền vận động về SKSS của các cán bộ xã. Họ đã ý thức được việc phải đi khám thai, sinh con tại trạm. Đối với những trường hợp đẻ dễ không kịp lên trạm, số phụ nữ được các nhân viên y tế đỡ đẻ tại nhà cũng là chủ yếu. Tóm lại, năng lực tiếp cận các dịch vụ chăm sóc SKSS của người phụ nữ không chỉ phụ thuộc vào yếu tố kinh tế mà còn phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố văn hoá, trong khi các cơ sở dịch vụ chưa chú ý đến những yếu tố này.
|
||